Bất chợt một ngày, nghe tin nhà văn Cung Tích Biền ra đi về cõi xa, mọi thứ chợt chùng lại.
Lại nghe như đang đứng giữa một hang động vô cùng, nghe tiếng một giọt nước rơi ở đâu đó. Một tiếng rất nhỏ, nhưng âm vang thăm thẳm, kéo theo vô vàn ký ức vọng về.
Cung Tích Biền là nhà văn. Nhưng hơn thế nữa, đời ông đứng giữa đại lộ sống – chết của những tháng ngày biến động. Nhìn lại mới hiểu ông phải chọn sống vì đời với nhiều lẽ, và phải tự tồn tại qua bao nhiêu thị phi mà chẳng mấy khi bận tâm đến việc dài dòng đính chính.
Những tháng ngày ở gần và nhìn thấy ông lặng lẽ hoàn thành Thằng Bắt Quỷ, tôi mới hiểu thêm tính cách kiêu hãnh của ông.
Ông chỉ dành sự động tâm cho những điều mà ông nghĩ sẽ còn lại về sau.
Mỗi sáng, như một công chức cần mẫn, ông lại đến bàn làm việc và viết. Viết kiên trì. Viết với một thứ kỷ luật gần như thép.
Mỗi ngày vài chục trang. Ông chỉ dừng tay khi đã gần trưa, hoặc khi một ý văn đã được viết đến nơi đến chốn.
Nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk, người có thói quen viết mỗi ngày không thay đổi, từng nói rằng, nghĩ đến một ngày nào đó có người đọc sách của mình thì đó là một niềm vui, và vì vậy ông viết.
Không biết Cung Tích Biền viết có niềm vui như vậy hay không. Nhưng tôi chỉ thấy ở ông một cách viết như một sứ mệnh: Một trí thức tự do miền Nam, đã đi qua chiến tranh, đi qua những thời khắc nghiệt ngã của đất nước, muốn để lại những suy nghĩ của mình cho ngày sau, nhưng có tiêu chí tuyệt đối là không muốn bất kỳ bàn tay kiểm duyệt nào chạm vào.
Đã xin in thì phải in nguyên. Không thì trả lại.
Có những ngày ý không vẹn, ông ra ngồi trên bậc tam cấp ở hàng hiên căn nhà Làng Hoa, Gò Vấp, nhìn mông lung ra khoảng trời trước mặt mà suy niệm.
Căn nhà ấy là nơi ông dọn về sau khi rời khu chung cư ở Nguyễn Huệ. Nhà xây tường cao hơn hai mét, bao quanh một cái sân nhỏ. Khi ấy, cư dân trong vùng còn rất thưa thớt. Muốn ra ngõ mua một món gì đó cũng phải đi xe loanh quanh qua con đường đất, chứ không thể đi bộ.
Có lần, đang ngồi như vậy, ông cười rồi chỉ cho tôi một cái chòi canh được dựng lên rất bất thường, cách nhà chừng chục mét.
“Thiệt quá tệ!”
Theo dấu tay ông, thấp thoáng là những thanh niên lạ mặt cứ thay nhau theo giờ, ngồi nhìn vào trong nhà, quan sát mọi động tĩnh.
Sau năm 1975, cuộc đời viết văn của Cung Tích Biền cũng bị liệt vào hàng “đối tượng nguy hiểm”. Mặc dù những tác phẩm của ông không có gì gọi là tấn công miền Bắc, mà cũng chẳng phải ngợi ca miền Nam. Tất cả, thuần túy, là văn chương sáng tạo.
Cái chòi ấy, theo lời ông kể, là nơi phía an ninh sắp đặt để theo dõi một cụ già chỉ ngồi đọc sách và viết. Một người thậm chí cũng không nhận trả lời thời sự với bất kỳ báo đài “địch” nào. Nhưng cái “tội” của ông là phát ngôn không kiêng dè, qua lại thân thiết với những thành phần bị coi là bất hảo, chẳng hạn nhóm Mở Miệng của Lý Đợi, hay cà kê với những văn nghệ sĩ bất phục của miền Nam.
Cung Tích Biền cũng hay ngồi ở quán Bông Giấy, trên đường Trương Minh Giảng, nay là Trần Quốc Thảo. Nơi đó vốn là chỗ tụ tập, cười đùa và giễu nhại của đủ loại văn nhân nghệ sĩ.
Vì đó cũng là nơi tập hợp những người không mấy khi chịu phục vụ cho một quan điểm chính trị có sẵn, nên phía an ninh cũng thường cắt cử người thay phiên nhau ngồi gần đó, nghe ngóng, xem những người bị coi là “phản động” này có liên kết với nhau để làm chuyện gì bất thường hay không.
Chuyện xảy ra thường xuyên đến mức mọi người quen mặt cả những “khỉ nga” – nói theo cách của nhà thơ Bùi Chát – tức những kẻ “khả nghi”.
Có lần, quán cà phê đang rộn rã, một người chợt nói: “Không biết tay an ninh đó đang theo dõi ai trong đám tụi mình.”
Cả đám cười ồ lên, rồi cứ đổ thừa cho người này, người nọ. Nhưng đến lượt ông Biền thì khác. Ông hành động rất Quảng Nam.
Ông quay sang gọi thẳng người đang ngồi theo dõi: “Cho Qua hỏi là em để ý ai trong đám này vậy?”
Người bị hỏi chỉ biết nghiêm mặt, lắc đầu, rồi sau đó ngại ngùng đứng lên bỏ đi.
Trong văn chương của Cung Tích Biền cũng mang tính cách như vậy. Ông có một lối viết đôi khi thẳng thừng đến mức người đọc cũng thấy ngại.
Rất dễ bắt gặp những câu văn, những từ ngữ ông viết huỵch toẹt, không cần viết tắt, cũng chẳng né tránh. Nhưng rồi chính mạch truyện ấy lại đưa người đọc đi từ những điều tưởng chừng rất trần tục đến một cái kết đầy ẩn dụ, có khi đọc xong chỉ biết lặng im.
Như truyện ngắn Mùi của gió mùa. Nhân vật cụ Gàn dường như là một cách Cung Tích Biền tự giễu nhại chính mình: một ông già thích lý luận, thích đặt vấn đề, thích bóc trần những luân lý giả tạo, không ngại đứng ra can gián ngay cả khi tình thế đã vô cùng nguy hiểm.
Có thể tóm tắt câu chuyện ấy một cách rất ngắn: Tuổi già, không hiểu xã hội đang thay đổi, nên phải chết.
Phần cuối câu chuyện, cụ Gàn bị bọn lưu manh căm ghét, cầm đá đập vào đầu và chết.
Nhưng bàn thờ cụ không để hình. Người ta để lên đó một cục đá đẫm máu của cụ để thắp nhang.
Cái đau trong văn của Cung Tích Biền thường đi cùng một thứ tiếng cười rất lạ. Bỡn cợt mà cay. Khinh bạc mà đau. Như thể ông muốn nói rằng: có lòng với đời, có uyên bác đến đâu, cũng không phải lúc nào có thể chống lại được bạo lực.
Con cháu của cụ giải thích việc thờ cục đá đẫm máu ấy: “Trên mặt đất này, hôm nay, nếu thờ cái nạn nhân thì có mà hàng triệu triệu. Thờ quách cái tội lỗi, cái nguồn cội bao la gây ra tội. Đơn giản là thờ cái hệ thống đẫm máu.”
Đọc đến đó, người đọc vừa hụt hẫng, vừa nghe trong lòng một tiếng cười khan, khinh bạc của chính tác giả.
Thân phận của Cung Tích Biền cũng giống như hàng ngàn gia đình khác ở Việt Nam, bị buộc phải chia lìa, đối đầu trong một cuộc nội chiến. Trong gia đình ông có người tham gia quân đội Việt Nam Cộng Hòa, cũng có người ở bên kia mặt trận. Bản thân ông là một đại úy Việt Nam Cộng Hòa.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, có người nói đã nhìn thấy Cung Tích Biền ngồi trên một chiếc Jeep có bộ đội chạy quanh Sài Gòn.
Nhưng mọi thứ đều có lý do của nó.
Khi những người thân thuộc phía chiến thắng đến nhận mặt, ông không còn nhiều lựa chọn. Và trong một thời buổi mà những cuộc trừng phạt bất thường đang diễn ra khắp thành phố, những buổi tối có tiếng gõ cửa rồi trói dẫn người đi không thấy trở về là chuyện bình thường, thì việc có một người phía bên kia ngồi cạnh mình đôi khi cũng là một cách trình diễn để tránh những chuyện bất an chẳng biết sẽ xảy đến lúc nào.
Là một quân nhân đã giải ngũ từ năm 1973, Cung Tích Biền lúc ấy chỉ còn cách thuận theo dòng nước để giữ mình và bảo vệ gia đình – một người vợ và ba đứa con nhỏ. Một gia đình cũng mỏng manh như hàng triệu gia đình khác ở miền Nam lúc đó.
Nhưng bên cạnh đó, ông cũng từng tận dụng cái tư thế trình diễn trong một giai đoạn ngắn ấy để giúp những người bạn văn như Phan Nhự Thức trú ẩn, tìm việc, chia sẻ những ngày tháng khó khăn với Nguyễn Thụy Long…
Điều quan trọng ông không phải người bán đứng anh em để thủ lợi. Ông cũng không nhận ơn mưa móc của chính quyền mới như kẻ hoạt đầu.
Có người đồn rằng ông đã bán mình cho chính quyền để đổi lấy một cái ki-ốt bán tranh trên đường Nguyễn Huệ. Nhưng ít người biết cái ki-ốt ấy có được là nhờ họa sĩ Hồ Thành Đức giúp.
Đã có lúc người ta thì thầm rằng Cung Tích Biền là Việt Cộng nằm vùng, thậm chí đến chức đại tá. Những lời đồn ấy kéo dài và gây tác hại đến mức ở hải ngoại, khi có những bài viết về văn giới trước năm 1975, cái tên Cung Tích Biền đôi khi chỉ được nhắc thoáng qua, vì những người viết không có thông tin xác thực và cũng sợ mắc sai lầm.
Nhưng với bản tính kiêu hãnh và bất chấp của ông, chưa bao giờ ông tự tìm cách giãi bày với bạn bè về những lời đồn ấy. “Mọi thứ rồi tự nó sẽ phơi bày thôi.” Có lần ông nói với tôi như vậy.
Có lẽ đó cũng là cách ông nhìn cuộc đời. Như cách ông từng mô tả mình như một người sẽ đường hoàng ngồi trong căn phòng đợi của lịch sử, chờ đến lúc nhìn thấy lẽ đời sáng tỏ.
Cung Tích Biền có lẽ là một trong số rất ít người sau năm 1975 phản ứng trực diện khi các tác phẩm của mình, sau khi chiến tranh chấm dứt, bị tịch thu và bị xếp vào loại văn hóa “đồi trụy, nguy hiểm”.
Có lần vào Bảo tàng tội ác Mỹ – Ngụy, ông nhìn thấy một vài tác phẩm của mình được đặt trong lồng kính, bên cạnh ghi chú là sách đồi trụy.
Ông gọi người đang trực ở phòng đó lại và hỏi: “Đây là sách tôi bỏ tiền in, và là tác phẩm của tôi. Ai cho các anh chị sử dụng để trưng bày mà không hỏi ý kiến tôi?”
Vào những ngày tháng ấy, mọi tiếng nói phải nhỏ lại, giọng điệu phải mềm mỏng, gương mặt lúc nào cũng phải khờ khạo một chút để dễ qua chuyện. Cho nên giọng nói sang sảng và cách đặt vấn đề của ông Biền lúc ấy trở thành một cú va chạm đủ mạnh khiến những nhân viên trong bảo tàng chết lặng.
Họ bối rối đẩy trách nhiệm sang Thư viện Quốc gia, nơi đang tịch thu và lưu giữ sách vở của nhiều tác giả, chứ không chỉ của riêng Cung Tích Biền. Và rồi Cung Tích Biền xông thẳng đến Thư viện Quốc gia. Ông dùng quyền sở hữu của mình để yêu cầu được sao chụp lại toàn bộ những sách vở của mình, bởi chiến tranh và loạn lạc đã làm mất tất cả.
Lúc ấy, sự việc bất ngờ khiến những người ở đó hoàn toàn lúng túng. Họ hẹn lần hẹn lữa, buộc ông làm đơn, phải có công an xác nhận, rồi buộc ông đóng 300 ngàn đồng – vào thời điểm đó là một số tiền rất lớn – gọi là phí sao chụp vào CD.
Nhưng cả tháng sau vẫn không có tăm hơi gì.
Ông cũng không được trả lại tiền.
Thứ ông nhận được cuối cùng chỉ là một tờ thông báo, trên đó có dòng chữ: “Truyện phản động, không được phép sao lục, chưa có phép lưu hành.”
Cái máu Quảng Nam lại bùng lên. Ông tranh luận ngay tại chỗ, trước mặt cán bộ: “Tác phẩm của tôi, tôi sao lưu, sao gọi là lưu hành?”
Sau một loạt câu hỏi không thể trả lời được, những khuôn mặt trước mặt ông cứ trơ ra, không biết là bởi ngượng ngùng hay là vô phương đối phó.
Cuối cùng, Cung Tích Biền ra về, sau khi để lại một câu chốt hạ: “Đây thực sự là một vụ cướp đoạt tài sản.”
Cung Tích Biền im lặng với một đời về sau để dành sức viết những trang sách. Trong đó ông để lại những suy ngẫm, những ẩn dụ, những huyễn hoặc đau đớn về những gì xảy ra chung quanh cuộc đời mình.
Tương tự như nhân vật ông Cố trong Thằng Bắt Quỷ, chết đi sống lại ngay trên đường đi chôn, rồi sống phần cuối đời trên trần gian, chỉ im lặng mỉm cười khi người ta hỏi han về mình.
Nhưng im lặng không có nghĩa là tảng lờ thế sự. Nếu cần, ông vẫn bước xuống. Ông vẫn là một người sẵn lòng đi cùng dòng chảy của đời.
Năm 2014, Sài Gòn – Hà Nội sục sôi với những dòng người rầm rập xuống đường biểu tình chống Trung Quốc đặt giàn khoan trong vùng biển Việt Nam.
Giữa dòng người ấy vẫn có một cụ già tóc bạc, đi bộ và hô vang những khẩu hiệu chống Trung Cộng. Cụ già ấy là Cung Tích Biền.
Dĩ nhiên, công an Sài Gòn bắt ông về đồn thẩm vấn như bao người xuống đường hôm ấy. Những người bị bắt chung hôm ấy kể lại mà ai cũng buồn cười.
Bởi ông Biền biến ngay cái chỗ dùng để thẩm vấn người biểu tình thành một diễn đàn nói về trách nhiệm và danh dự của một công dân Việt Nam.
Những công an viên ngồi trước mặt ông chẳng ai có thể cãi lại được. Sau rốt họ buộc phải cho ông đi về.
Du Tử Lê từng nói Cung Tích Biền là một nhà văn có ngôn ngữ “khấp báo trầm thống”. Có lẽ đúng vậy.
Bởi trong văn chương, và cả trong ngôn ngữ ngày thường, ông thường có một cách dự báo về những dị tượng sẽ đến với con người. Những đổi thay lạ thường của thế giới đang sống. Cái cô đơn của một người đôi khi nhìn thấy trước, hiểu trước, nhưng chẳng biết làm gì khác ngoài việc viết xuống, rót ly bia tư uống và mỉm cười, cô độc như Lý Bạch rót rượu uống thưởng Trăng
.
À, cũng quên nói. Nhà văn Cung Tích Biền vẫn gọi tôi là con, xưng bố.
Với tôi, ông là một nhà văn lớn.
Và hơn thế nữa, ông là một người lớn đã dẫn đường cho tôi, một người mà tôi vô cùng thương mến.
Thôi thì bố hãy thanh thản ra đi. Văn chương bố còn đó. Những gì bố viết còn đó. Di sản văn hóa tự do của miền Nam Việt Nam vẫn còn đó.
Mọi thứ vẫn ngời xanh.
Những gì bố để lại, không dễ phôi pha nơi xứ sở này.
Và biết đâu, ở một nơi nào đó, khi một giọt nước rơi xuống giữa một hang động rất sâu mà ta nghe thấy, tiếng vọng của nó vẫn còn đi mãi.
Tiếng vọng của văn chương, và ký ức.